Đến xứ Thanh nghe chuyện “chàng rắn” đào đôi giếng thần - Phóng sự - Pháp Luật Xã hội

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014 0 nhận xét

Nguồn: “…trời đang nắng bỗng nổi cơn gió mạnh, mây đen kéo tới, rồi hai mó nước bất ngờ đùn lên giữa làng, nước tuôn ào ạt, chốc lát đã dâng tràn lai láng, dân làng dùng thỏa thuê không hết. Để giữ nguồn nước quý, làng cho xây hai cái giếng cạnh nhau, một chiếc gọi là giếng Nam, một chiếc giếng Nữ…”, trích nội dung câu chuyện về nguồn gốc hai giếng nước tại làng Chiềng. Truyền thuyết về đôi “giếng thần” Tôi tìm về làng Chiềng, xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa để mục sở thị và tìm hiểu câu chuyện kỳ bí về đôi “giếng thần” (giếng Nam – Nữ) của người Mường nơi đây với những tình tiết ly kỳ, gợi trí tò mò và gắn liền với sự tích “chàng rắn” báo ân cha nuôi. Không ai trong làng Chiềng biết chính xác hai chiếc “giếng thần” của làng có tự bao giờ. Theo người dân, khi họ sinh ra thì giếng đã có từ lâu, quanh năm trong vắt và đầy ắp nước, mùa đông ấm áp còn mùa hè lại mát rượi. Giếng là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho dân cả làng, xã. Để tìm hiểu về nguồn gốc của giếng, theo giới thiệu của dân làng, chúng tôi tìm đường vào nhà ông Cao Viết Cẩm (60 tuổi), người đang giữ gia phả của dòng họ Cao. Ông Cẩm đang ăn cơm trưa khi tôi đến nhà. Ông niềm nở đón khách rồi kể cho tôi nghe câu chuyện về nguồn gốc của hai chiếc “giếng thần” được truyền lại từ đời trước. Theo gia phả dòng họ Cao: Vào một đêm mưa gió, trời tối đen như mực, ông tổ họ Cao đi kéo vó bắt cá ở hồ nước thông với con sông Bưởi. Hôm ấy, ông kéo từ sẩm tối tới nửa đêm mà kỳ lạ là không hề được một con cá nào dù đoạn hồ này vốn nổi tiếng lắm cá. Định bỏ đi chỗ khác, bỗng dưng ông thấy trời nổi sấm chớp đùng đùng, mặt hồ thình lình cuộn sóng dữ dội. Trong ánh chớp, ông nhìn thấy một con vật lớn, hình dáng tựa con giao long đang vặn mình dưới nước. Bà Cao Thị Động đứng bên miệng giếng Nam.        Ảnh: Khánh Phong Hoảng hốt, ông vội nhấc vó định co chân chạy. Nhưng chiếc vó tự nhiên nặng trĩu, ông lấy hết sức kéo thật nhanh. Vừa nhấc vó lên khỏi mặt nước, ông thấy một quả trứng to nằm lẫn trong đám rong rêu. Lạ thay, lúc này con giao long biến mất, mặt hồ dần lặng sóng, sấm chớp cũng không còn. Thấy lạ, ông tổ họ Cao trở về nhà đem quả trứng bỏ vào ấp chung với ổ trứng gà, khi ổ trứng gà nở thành con, quả trứng lạ vẫn nằm im lìm trong ổ khiến ông phải đem sang ổ trứng khác. Thêm một lần chuyển ổ, đúng 55 ngày sau, ông bỗng nghe con gà mái đang ấp cất tiếng gáy vang, nháo nhào nhảy ra khỏi ổ rơm. Chạy vội ra nơi đặt ổ trứng, ông thấy một con rắn nhỏ, dài cỡ hơn gang tay, thân hình trắng toát, đầu có mào đỏ như mào gà đang vươn mình phun phì phì. Từ đấy, rắn ở luôn với ông như vật nuôi trong nhà, nó quấn quýt bên ông và chỉ ăn tôm, cá do ông bắt được, không bao giờ đụng đến loại thức ăn khác. Sau khi theo ông đi kéo vó về, nó thường cuộn tròn trên xà nhà ngủ. Cứ thế con rắn lớn dần, to như bắp tay người lớn, mỗi khi ông kéo vó, nó lao xuống nước, xua tôm cá vào vó của ông. Cho đến một hôm, rắn bỗng bỏ ăn, nằm cuộn tròn không nhúc nhích dưới gầm giường suốt ba ngày. Sang ngày thứ tư, nó lại theo ông ra hồ kéo vó, lặn xuống nước xua tôm cá vào vó của ông. Rồi bất thình lình, nó quay lại, ngóc cổ lên cao như chào từ biệt ông rồi chìm sâu xuống nước. Đêm ấy, ông nằm mơ thấy một chàng trai bạch diện thư sinh, mặc đồ trắng, đội mũ đỏ đến bên giường, nói: “Mấy năm nay con được bố nuôi nấng, chăm sóc, những tưởng bố con sẽ sum vầy mãi mãi, nhưng không được vì con chưa hết nợ kiếp này nên phải ra đi. Nếu có dịp, con sẽ đền ơn bố và dân làng”. Dứt lời, chàng trai quỳ xuống lạy ông ba lạy rồi quay người mất dạng trong tích tắc. Ít lâu sau, trời làm hạn hán, ruộng đồng, sông suối trong vùng đều khô cạn, dân làng khổ sở vì thiếu nước. Một đêm, rắn lại về báo mộng cho ông, rằng ngày mai sẽ có nước về cho mọi người. Ông không tin nhưng sáng hôm sau, ông cũng dậy thật sớm để xem cơn mộng của mình có linh nghiệm hay không. Hôm ấy, trời đang nắng bỗng nổi cơn gió mạnh, mây đen kéo tới, trời tối sầm, rồi hai mó nước bất ngờ đùn lên ngay giữa làng, nước tuôn ào ạt, nhiều vô kể, dân làng dùng không hết. Thấy nguồn nước quá mạnh, dân làng phải tìm những tảng đá to  từ trên núi về chặn bớt sức chảy. Để giữ nguồn nước, làng cho xây hai cái giếng cạnh nhau, một chiếc gọi là giếng Nam, một chiếc giếng Nữ. Sau đó, làng trồng cây si, lập bia đá ghi công đức thờ rắn thần và thường xuyên hương khói . Cũng như giếng Nam, giếng Nữ được người dân làng Chiềng coi là một nơi linh nghiêm trong làng.    Ảnh: Khánh Phong Những chuyện lạ lùng về “giếng thần” Xung quanh hai chiếc giếng này là cả một “kho” truyện kỳ bí, lạ lùng. Nằm giữa những cây si cổ thụ, hai chiếc giếng hình vuông, mỗi cạnh khoảng hơn 2m, được xây, lát bằng những phiến đá phẳng lỳ, vuông vức. Cả hai đều đầy ắp nước trong xanh, cách vài mét là chiếc bia đá cổ rêu phong, nét chữ đã mờ do thời gian, nằm dưới gốc si già có cành, rễ uốn lượn như đàn rắn, bên dưới có rất nhiều chân hương. Theo lời kể của ông Cao Viết Cẩm, từ khi ông sinh ra đến nay, hai chiếc giếng này chưa bao giờ hết nước, kể cả những khi hạn hán, tất cả hồ, ao, sông, suối trong vùng đều khô cạn, bà con khắp nơi mang thùng, xô đến đây lấy nước. Nhưng mực nước chỉ hạ xuống một chút rồi lại dâng đầy. Lạ một điều là gặp hôm trời rét, nước giếng bốc hơi nghi ngút nên dù rét cắt da, cắt thịt, dân làng vẫn ra đây tắm bình thường. Người ta tin đàn bà, con gái tắm ở chiếc giếng phía trong thì da dẻ mịn màng, đàn ông, con trai tắm ở giếng ngoài lại khoẻ mạnh, cường tráng. Vì thế dân làng mới đặt tên hai chiếc giếng là giếng Nam, giếng Nữ. Anh Cao Viết Hải (30 tuổi), cháu ruột ông Cẩm, người được dòng họ Cao giao nhiệm vụ trông nom hai chiếc “giếng thiêng” và ngôi mộ tổ kể rằng: “Trước đây đôi giếng hoàn toàn bằng đất. Năm 2001, bà con làng Chiềng đã đóng góp xây dựng lại giếng và khuôn viên xung quanh. Trong quá trình làm, tốp thợ vô ý để vãi một ít vữa xuống giếng, một lát sau, nước tại hai giếng đục ngầu, sóng rất mạnh, bọt tung lên trắng xóa, khiến nhiều người hốt hoảng, người dân trong làng đã vội vã sắm lễ vật và mời thầy cúng về làm lễ mong “thần rắn” xá tội. Hàng năm cứ vào ngày 15-1 âm lịch là dân làng rước kiệu về giếng tế “thần rắn”. Muốn làm vệ sinh trong lòng giếng phải là người đức cao, vọng trọng trong dòng họ Cao, khi làm lễ phải có nắm cỏ, miếng trầu xuống thưa lễ, lúc đó giếng mới ngừng trào nước. Nhưng giếng cũng chỉ “tắc” trong một tiếng đồng hồ mà thôi. Theo thông lệ hàng năm cứ vào 25 tháng giêng, từ đáy giếng lại lộn lên bùn cát, làm cho nước đục ngầu. Dọn giếng phải chọn hôm nào trăng sáng, làm vào 12g đêm…”. Theo bà Cao Thị Động (65 tuổi), nhà ngay cạnh đôi “giếng thần”: “Quanh đây cũng có nhiều cái giếng khác nhau nhưng ít nước hơn chứ không luôn đầy như “giếng thần”, nhà tôi cũng có một cái ở cuối vườn nhưng tôi lấp để làm vườn rồi”. Để tạ ơn thần rắn đã giúp đỡ dân làng, hàng năm vào dịp đêm 30 Tết, dân làng Chiềng và cả các vùng lân cận đều tổ chức lễ cúng giếng thần. Lễ vật gồm một đôi gà tơ (một trống, một mái) màu trắng, một con cá chép, một mâm xôi ngũ sắc và hoa quả, trầu, rượu. Lễ cúng thường diễn ra trước một đống lửa lớn, bắt đầu từ khoảng 22 giờ và kết thúc sau lúc giao thừa. Sau đó lộc cúng được chia đều cho tất cả những người tham dự. Cùng với lộc, dân làng còn múc một bình nước giếng mang về nhà “lấy may” đầu xuân năm mới. Qua năm tháng, lễ cúng vẫn được dân làng duy trì và tổ chức đều đặn hàng năm. Người ta còn cho rằng, những đôi nam thanh, nữ tú người dân tộc Mường trong vùng, nếu tìm hiểu nhau tại “giếng thần” thì sẽ kết thành đôi lứa, con đàn cháu đống, hạnh phúc đến răng long đầu bạc. Ngày PV về làng Chiềng, có nhiều người dân ra giếng tắm, giặt. Tôi cũng được nghe nhiều câu chuyện của người dân kể xung quanh đôi giếng này. Ai cũng tự hào về “báu vật” của làng. Một cây si to đã bị đổ vắt ngang lên thành tường bảo vệ giếng nhưng không ai dám đụng tới cũng như di chuyển đi nơi khác. Họ cho rằng vì chưa làm lễ nên không dám đụng vào. Nhiều người dân thì bảo rằng, vì trên núi có một mạch nước ngầm chảy vào giếng nên đôi giếng quanh năm mới đầy nước như vậy. Theo ông Bùi Minh Thông, Chủ tịch UBND xã Cẩm Quý: “Chuyện chàng rắn báo ân bố nuôi bằng đôi “giếng thần” trong gia phả họ Cao được người làng Chiềng truyền qua bao thế hệ. Đến nay, câu chuyện về “chàng rắn” ở làng Chiềng vẫn được bà con gìn giữ, coi đó như một nét văn hóa của làng. Bà con dân tộc Mường ở làng Chiềng tôn thờ, coi đôi “giếng thần” này là hiện thân của bản làng và là nơi giao lưu văn hóa tâm linh” . Khánh Phong

Link: http://phapluatxahoi.Vn/20140619073246143p1001c1049/den-xu-thanh-nghe-chuyen-chang-ran-dao-doi-gieng-than.Htm

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 

©Copyright 2011 Lê Trung Quân